Solitude

Nhất khúc Dương xuân, xuân dĩ mộ

Nón
Trường An April 27th, 2012

Trích Vũ trung tùy bút:

Khi ta lên tám chín tuổi, thấy các ông già đội nón ngoan xác, tục gọi là nón mền giải hay là nón tam giang; con nhà quan và học trò vá học trò các học hiệu thì đội nón phương đẩu đại, tục gọi là nón lá; họ hàng nhà quan và các ông già thì đội nón cổ châu, tục gọi là nón dâu; người lớn và trẻ con đội nón liên diệp, tục gọi là nón lá sen; con trai con gái, đàn ông đàn bà ở chỗ kinh kì đội nón cổ châu, trẻ con đội nón tiểu liên diệp, tục gọi là nón nhỏ khuôn; đàn ông đàn bà thôn quê, đội nón xuân lôi tiểu lạp, tục gọi là nón sọ nhỏ; lính trang đội nón trạo lạp, tục gọi là nón chèo vành; người hầu hạ và vợ con lính tráng đội nón viên đẩu, tục gọi là nón khùa; nhà sư và thầu tu đổi nón cẩu diện, tục gọi là nón mặt lờ; người có tang đội nón xuân lôi đại, tục gọi là nón cạp; người có chở một năm trở xuống đội nón cổ châu, quai mây, chỉ có nhà quan và nhà quyền thế có tang thì đội nón cẩu diện để phân biệt. Người trong Thanh, Nghệ đội nón viên cơ, tục gọi là nón Nghệ. Người Mán Mường ở ngoại trấn đội nón tiêm quang đẩu nhược, hình như nón khùa, đầu nhọn, làm bằng vỏ măng nứa, khác với người mọi nơi. Đến khoảng năm Nhâm Dần, Quý Mão (1782 - 1783), quân Tam phủ biến loạn, cậy công làm càn, nhiều người đội nón viên cơ, để lẫn với quân lính. Đến năm Bính Ngọ (1786), trong nước có biến, lại bỏ nón viên cơ, đội nón cẩu diện, người có tang một năm trở xuống, buộc quai sợi trắng để phân biệt. Ở thôn quê, theo dáng nón ngoan xác mà làm thấp đi, gọi là nón toan bì, tục gọi là nón vò bứa, thỉnh thoảng lại có người đội nón xuân lôi tiểu; còn những thứ nón tam giang, ngoan xác, phương đẩu, cổ châu, liên diệp và trạo lạp thì không thấy nữa.

Hình ảnh những loại nón còn đến thế kỷ XIX trong sách của Pháp:

Photobucket

Trong phần ghi chép của Phạm Đình Hổ, có thể xác định vài kiểu nón phổ biến vào thế kỷ XVIII:

- Nón cổ châu: "họ hàng nhà quan và các ông già thì đội nón cổ châu, tục gọi là nón dâu", "con trai con gái, đàn ông đàn bà ở chỗ kinh kì đội nón cổ châu", "người có chở một năm trở xuống đội nón cổ châu, quai mây". Người nhà quan, người kinh kỳ đội loại nón này. Chính là nón [1] hình trên, gọi là "nón giâu (dâu)". Nón này cũng thấy trên hình:

Photobucket

- Nón thầy tu: còn gọi là nón tu lờ, cẩu diện. Nón số [3]. "Đến năm Bính Ngọ (1786), trong nước có biến, lại bỏ nón viên cơ, đội nón cẩu diện, người có tang một năm trở xuống, buộc quai sợi trắng để phân biệt."

- Nón viên cơ: "Người trong Thanh, Nghệ đội nón viên cơ, tục gọi là nón Nghệ", "Đến khoảng năm Nhâm Dần, Quý Mão (1782 - 1783), quân Tam phủ biến loạn, cậy công làm càn, nhiều người đội nón viên cơ, để lẫn với quân lính". Nón số [5]. Có thể quân đội thời kỳ này đã dùng nón Nghệ.

Cón các loại nón có tên khác có thể chỉ là cách gọi khác không chừng. Như nón quai thao được gọi là nón ba tầm - gần giống chữ "tam giang", hay "liên diệp" có thể là hình lá sen úp, cũng có thể là hình lá sen ngửa tròn (dù mình thiên về lá sen "bình thường" hơn, lá sen tròn kiểu trong Thảo cầm viên là sen châu Mỹ). Có thể thấy nón quai thao với nón Nghệ rất giống nhau. Nếu nón tam giang không phải là nón quai thao, thì nón quai thao cũng có lịch sử vô cùng gần - sau khi "lai" giữa nón Nghệ với nón cổ châu. '__'

Một đặc điểm dễ thấy khi quan sát hình ảnh được chụp cuối thế kỷ XIX, đầu XX, là mỗi vùng miền đội một loại nón khác nhau. Như nón quai thao chỉ phổ biến ở Bắc, nón lá phổ biến ở miền Trung, càng đi về phương Nam thì càng thấy phụ nữ dùng khăn che đầu thay cho nón (Đặc điểm này đã được Trịnh Hoài Đức viết trong Gia Định thành thông chí vào đầu thế kỷ XIX, ở phần Hà Tiên).

Cuối thế kỷ XVIII, ở bến cảng Đà Nẵng, ta có thể thấy các loại nón sau: nón thúng, nón lá, nón Nghệ... Nón Nghệ cực kỳ phổ biến, dễ hiểu vì cư dân phần lớn đến từ Nghệ An, Thanh Hóa.

Photobucket Photobucket Photobucket

Theo Phạm Đình Hổ, nón Nghệ theo đoàn quân gốc Thanh - Nghệ phù Trịnh Khải gây ra nạn kiêu binh mà "phổ biến" khắp nơi trong miền Bắc. Rồi ông lại viết "những thứ nón tam giang, ngoan xác, phương đẩu, cổ châu, liên diệp và trạo lạp thì không thấy nữa", không hiểu là ý những loại nón này đã bị nón "ngoan xác thấp" thay thế vị trí chỉ ở thôn quê hay toàn miền Bắc? (Một nghi vấn nữa cho giả thiết "nón tam giang là ba tầm"). Nhưng tình hình cho đến cuối thế kỷ XIX có thể thấy là những loại nón thấy ở miền Trung cuối thế kỷ XVIII đã "di cư" ra Bắc, trong khi những loại nón phổ biến đồng thời trước đó như cổ châu (đã được người Nhật vẽ) lại ít hơn hẳn, trong khi người miền Trung và miền Nam gần như nghiêng hẳn về loại nón lá chóp nhọn.



Leave a Reply

(required)

(required)

:) :D :( :(( ;)) :banh: ;) ::) =)) :)) b-) :meo1: :meo2: :meo3: :meo4: :meo5: :meo6: :meo7: :meo8: :meo9: :meo10: :meo11: more »

Bộ gõ tiếng Việt đã được bật. Bạn có thể gõ tiếng Việt không cần phần mềm trong máy.
RSS feed for comments on this post.

Copyright © Trường An. All rights reserved.