Solitude

Nhất khúc Dương xuân, xuân dĩ mộ

Bí mật
Tuesday, December 29, 2009 Author: Trường An

Có một bí mật nho nhỏ, mà tôi ít nói với ai: Tôi thường quan sát họ, trong những tấm hình.

Dù tôi có quen họ ngoài đời, dù tôi vẫn gặp họ hàng ngày, dù tôi thường giáp mặt họ. Dù họ ở ngay trước mặt tôi.

Đối với tôi, con người là điều gì đó... hay ho, đó có phải là chữ chính xác chăng? Nhưng tôi thường lấy quan sát và tìm hiểu làm thú vui. Như khi tôi đi học tử vi, học tướng số, đi đọc những cuốn sách và tài liệu. Như thể tôi đang tìm cách đọc con người như thể dò một bảng mã, học viết một loại code. Nếu bạn không biết những ký tự mã hoá ấy, bạn chỉ thấy rối rắm và nhức đầu. Nhưng nếu bạn đã biết - quy luật và kỹ thuật - bạn sẽ tạo ra được cái gì đó. Sẽ có thể. Vì những người học lập trình đều biết, để đạt được đến một mục đích, tạo ra được một thành quả, có rất nhiều cách thức, con đường, dù quy luật và kỹ thuật đã có, đã biết, đã thành thạo. Và dù đã biết, đã thành thạo, vẫn có thể lúng túng và bất lực trước một thách thức nào đấy, sự sáng tạo nào đấy. Những phần mềm và những hệ điều hành đầy lỗi, luôn phải nâng cấp, vá lỗi và cải tiến, đó là minh chứng. Sự sáng rõ của các quy luật và kỹ thuật không giúp ích được gì nhiều trong vấn đề này. Khi mà càng ngày người ta càng tạo ra nhiều quy luật, mã hoá, thuật toán, ngôn ngữ lập trình hơn. Đến mức chúng va chạm nhau hay không thể dung hoà, kết hợp với nhau. Và thành quả của họ, cái bộ máy cồng kềnh được thiết kế bởi rất nhiều người, vô số người ấy, có thể đến chính những kẻ làm ra cũng không hiểu hết. Không thể, họ chỉ nắm được một phần của nó. Những hệ điều hành, phần mềm luôn đầy lỗi.

Con người, hay nói đúng hơn là quan sát con người, nếu nhìn theo cách ấy, cũng như vậy. Nếu quá dựa vào quy luật và kiến thức, nắm chắc rằng bạn sẽ thất bại, hay nhẹ nhàng hơn, sẽ có lúc phải bất ngờ.

Bạn phải có thêm một thứ nữa: Cảm giác. Cảm tính, linh cảm, hay bất cứ điều gì không thể hiện bằng vật chất hay thậm chí, kiến thức và suy nghĩ. Bạn phải cảm thấy nó. Bạn phải cảm thấy được thứ không hiện hữu, dưới bất cứ hình thức nào.

Tôi đang nói đến những tấm hình.

Tình cờ, tôi đã phát hiện ra điều đó. Rằng người ta có thể rất khác trong hình và ngoài đời. Đó không phải là chuyện đường nét hay thậm chí, phong cách hoặc tình cảm. Khác - trong khoảng thời gian chớp sáng và hình ảnh ngưng đọng lại vĩnh viễn - con người đã đứng lại và ngưng đọng vĩnh viễn.

Không còn cảm xúc hay tình cảm, hoạt động hay trạng thái, đời sống hay thậm chí, sự sống - trong hình, chỉ có con người với toàn bộ những gì là họ.

Tôi đã tình cờ phát hiện ra điều đó, rất lâu trước đây, khi thoáng qua một ý nghĩ nhỏ rằng người trong hình và ngoài đời thật là khác nhau. Đó lại không phải là một điều hiếm gặp.

Dần dà, tôi khám phá ra rằng, tôi có thể nhìn thấy họ chính xác bằng cách quan sát ảnh của họ. Một điều gì đó đã bị bỏ qua trong những hoạt động luôn thay đổi hàng ngày, một điều gì đó đã bị phủ che khi nhìn họ bằng xương bằng thịt. Trong cái chớp sáng của máy ảnh và sự ngưng đọng vĩnh viễn của thời gian, họ trở nên chân thực.

Tôi không thể giải thích điều mà mình đã nhìn thấy. Nhưng qua vài trường hợp, tôi biết cái mình thấy là chính xác. Trong đa số trường hợp, gần như là tất cả, tôi đã thấy những gì mà tôi biết, sau tất cả những phủ che thường nhật, biểu lộ rất rõ trong những tấm ảnh.

Sự khác biệt hay nét biểu lộ nhạt mờ đều có thể nhìn thấy, trong những tấm ảnh.

Đó có lẽ cũng là một loại cảm giác.

Và có những người - hình chụp rất khác với người ngoài đời thật, ngay cả khi nhìn vào trong gương.

Từ lâu, tôi cho rằng điều đó không thể giải thích bằng chữ "ăn ảnh" thông thường.

Thậm chí, cùng với việc học tướng số và tử vi, tôi phát hiện ra rằng những người có cùng một ngôi sao sẽ mang một phong thái từa tựa như nhau. Lại một lần nữa, nó không phụ thuộc vào đường nét. Nó là khí chất. Nó có thể được nhìn rõ qua những tấm ảnh. Có những người, khí chất ấy của họ nhạt mờ trong cuộc sống, nhưng lại rất rõ, quá rõ trong ảnh chụp.

Vẫn thường nghe chuyện các thầy bói "lành nghề" có thể nói chính xác cung sao của thân chủ, hơn cả người nhà hay bệnh viện phụ sản. Không chỉ là đường nét, mà là khí.

Triết học phương Đông cổ xưa là triết học duy vật. Mọi vật đều do khí tạo thành. Đến từ không và trở về không. Sắc tức thị không, không tức thị sắc.

Con người cũng vậy. Do khí tạo thành.

Nhìn thấy và không nhìn thấy, thực ra cũng chẳng khác gì nhau.




CNCS III
Monday, May 4, 2009 Author: Trường An
    4. Tư tưởng và con người

Bạn có thể hỏi: Bạn là một công dân của nhà nước CSCN, nhưng bạn không hề có ý muốn giết người. Bạn chưa bao giờ nghĩ mình lại có thể trở thành kẻ cổ vũ cho hành vi thảm sát kẻ khác. CNCS, bên cạnh những hạn chế của nó, là một tư tưởng tốt đẹp với ước muốn mang lại công bằng, có gì đáng phải quy kết nó là vũ khí giết người? Với ví dụ là chính bản thân bạn, thứ tư tưởng này đâu làm con người thành tàn nhẫn? Những gì đã xảy ra chỉ là hạn chế của thời đại... vân vân và vân vân.

Vậy thì, bạn hãy trả lời những câu hỏi này: Khi đọc một tác phẩm viết về một thời đại nào đó, bạn đã từng bao giờ nghiến răng căm giận "Bọn phong kiến tồi tệ", "bọn tư bản thối nát"? Bạn đã từng bao giờ đổ hết tất cả mọi bất hạnh của nhân vật cho thời đại nhân vật đó sống? Bạn đã từng bao giờ nghĩ rằng các "cuộc khởi nghĩa nông dân" bao giờ cũng thật tốt đẹp? Bạn đã từng bao giờ đồng tình với những hành động tồi tệ của người được xưng tụng là "nhà lãnh đạo vĩ đại"? Bạn đã từng bao giờ hoan hô những "chiến công" được ghi dấu bằng số xác người đếm được trên chiến trường?...

Nếu bạn trả lời "có" cho hầu hết câu hỏi, đặc biệt là những câu đầu tiên, hãy tin rằng: Khi bạn sống vào thời đại của những cuộc đấu tố, bạn sẽ là kẻ ném đá vào những người đang qùy một cách hăng hái nhất. Và vào một trường hợp nhất định, bạn sẽ là kẻ giết người.

Bạn có bao giờ từng nghĩ đến người dân Đức vào thời đại Quốc xã? Hàng chục triệu người đã ở đâu, đã như thế nào khi quân đội và chính phủ của họ tàn sát hàng triệu người vô tội? Và sau đó, hàng chục triệu người ấy đã như thế nào?

Hàng chục triệu người ấy, họ biết, và họ im lặng, và họ đồng tình. Bởi vì, trong ý nghĩ của họ, những kẻ bị giết không-phải-người. Những kẻ bị giết không được nhìn nhận dưới khía cạnh con người. Mà nếu có, hành động ấy cũng là cần thiết - vì một quốc gia mới, vì một thế giới mới. Trong ý thức của họ, những kẻ bị giết đã được xếp vào một "tầng lớp" khác, dường như tách biệt hoàn toàn với họ, với thế giới này.

Bạn có từng nghĩ đến nguyên nhân cho sự "căm giận" của mình? Bởi vì bạn được dạy rằng "bọn thống trị" thật là xấu xa, và đó là số đông trong họ, có ngoại lệ đi chăng nữa cũng không có gì để bào chữa. Bạn có từng nghĩ đến lý do cho sự đồng tình của mình với hành động của ai đó? Vì bạn được dạy rằng những người thuộc tầng lớp dưới, thậm chí chẳng cần biết là ai, chỉ cần bọn họ chống lại "bè lũ thống trị" là đáng hoan hô và ca ngợi. Từ một hoàn cảnh cụ thể, bạn được "hướng dẫn" để nhìn qua cái lỗ kim đó đến toàn hoàn cảnh thế giới bên ngoài, khi mà tất cả nguyên nhân và lý do cho mọi chuyện chỉ là xung đột giữa các tầng lớp. Khi mà một bên đóng vai người tốt bị áp bức sẽ đại diện cho cả thế giới và kẻ ác đóng vai phần còn lại. Từ một hoàn cảnh cụ thể, bạn sẽ được dạy rằng bạn nên căm ghét kẻ xấu kia một mà căm ghét cái giai tầng của chúng mười. Thật may mắn, bạn đã sinh ra trong thời đại mà họ không còn nữa.

Nếu không, chỉ đẩy nhẹ thêm một chút, bạn sẽ là "anh hùng" quét sạch tất cả bọn họ.

Lòng "căm thù" của bạn đã được gieo mầm bằng lý thuyết về giai cấp, nuôi dưỡng bằng các bài học về sự tốt và cái xấu mang tầm vóc "vĩ mô", nơi đó, mọi sự nhân bản về con người và ranh giới của cá nhân và tập thể bị xóa nhòa. Bạn không nhìn những "kẻ phía bên kia" như con-người. Bạn căm thù họ không phải vì cá nhân họ hay bạn, không phải vì họ đã làm gì hay như thế nào - mà vì chính sự tồn tại của họ, sự hiện diện của họ.

Bạn nói mình không căm thù? Nhưng bạn quy kết tất cả bọn họ vào điểm đen của một thời đại, cho rằng họ phải chịu trách nhiệm cho những xấu xa tồi tệ của chế độ. Tất cả bọn họ - Nghĩa là, từ đứa trẻ mới sinh đến bà lão 80 tuổi chưa hề bước ra khỏi nhà. Hay có lý trí hơn một chút, bạn quy kết cho những người có địa vị trong xã hội ấy - không cần biết tư cách cá nhân họ ra sao. Bạn tự xếp mình vào cái tập thể "chính nghĩa" và nhìn họ như kẻ thù, đứng trong cái tập thể mà bạn được dạy rằng xấu xa tồi tệ.

Tất cả bọn họ đều đáng bị tiêu diệt.

Thậm chí, bạn còn không bằng người dân Đức quốc xã. Họ chỉ thờ ơ và bàng quan với những người bị giết. Còn bạn, bạn sẽ hả hê và vui mừng, bạn sẽ tung hô những con số xác chết càng nhiều càng tốt. Những kẻ bị giết, trong ý thức của bạn, không còn là con người mang số phận cụ thể, mà là sự hiện diện của điều xấu xa, tồi tệ, là sự ngáng trở bạn. Thậm chí, họ còn không được xem là kẻ thù, họ là qủy dữ. Thậm chí, họ không còn là sinh vật. Họ là một khái niệm.

Khái niệm được cấy vào đầu bạn từ những ý thức đầu tiên về thế giới.

Thế giới được phân chia thành các giai cấp. Các giai cấp là kẻ thù của nhau, đàn áp nhau để tồn tại. Trong đó, "kẻ tốt" luôn luôn bị áp bức bóc lột. Lịch sử của thế giới là một qúa trình tàn ác mà "kẻ xấu" gây bao tội lỗi với "người tốt". Bạn và "người lao động" là kẻ ưu việt, tốt đẹp, đóng vai người anh hùng cứu thế giới. Cái phần còn lại được xây dựng bằng những đường nét méo mó, xấu xa, ích kỷ, "phản động". Tất cả mục tiêu của con người là "Lợi ích", cho nên tất cả hành động của con người chỉ vì chính bản thân giai cấp mình. Tính thiện được tóm tắt bằng mấy chữ "công bằng và tiến bộ xã hội". Con người cá nhân không còn nữa, không được xem xét đến nữa. Và do đó, sự tồn tại của con người không được nhìn đến, chỉ có sự tồn tại của "tầng lớp", của "giai cấp".

Con người, trong bạn, do đó, chỉ là một khái niệm. Sự phân chia giai cấp trong ý thức của bạn là điều đương nhiên. Sự căm thù giai cấp đến trong bạn cũng tự nhiên như thế.

Sự căm thù con người đến với bạn cũng tự nhiên như thế.

Có thể bạn không nhận ra, nhưng bạn chỉ cần tự hỏi mình về nguyên do của tất cả những sự yêu ghét, sự phân cấp thế giới, phân cấp con người trong chính ý thức của mình, bạn sẽ nhận ra cái thế giới quan mà bạn được dạy méo mó và thiên lệch như thế nào. Bạn có cần nguyên nhân nào để hủy hoại con người trong tầng lớp khác ngoài chính sự tồn tại của họ? Vì bạn căm thù giai cấp của họ. Vì bạn được dạy rằng giai cấp của họ là xấu xa, là tồi tệ.

Thậm chí, với số đông, họ thậm chí còn không cần biết nguyên do của sự xấu xa tồi tệ kia. Họ chỉ cần nhìn thế giới với ý thức đơn giản của loài vật xâu xé nhau trong tự nhiên - Những kẻ kia dựa vào sức mạnh cướp đoạt tất cả của họ. Những kẻ kia phải chịu trách nhiệm cho sự nghèo đói, khốn khổ của họ. Những kẻ kia bày đủ thứ thủ đoạn để áp bức họ. Những-kẻ-kia, đó cũng là một khái niệm trừu tượng chỉ chung cho rất-nhiều-người.

Hãy tin, bạn sẽ vỗ tay hoan hô khi nghe đến con số "kẻ thù" bị giết. Bạn sẽ là kẻ nhảy lên đài xỉ vả người bị đấu tố. Bạn sẽ là kẻ cầm súng nã vào cả đàn bà trẻ con "bên địch".

Tất cả những gì bạn biết là một khái-niệm-về-sự-căm-thù.

Có thể bạn không phải là kẻ giết người. Nhưng bạn hành động vì một khái niệm và những kẻ-kia không phải là "con người".

Có thể lúc này bạn sẽ rùng mình khi nghĩ đến những người bị giết. Nhưng ngược lại, cho bạn một cuốn sách ghi con số "kẻ thù phong kiến và tư bản ta đã tiêu diệt được", bạn sẽ cho rằng đó là một chiến công. Và nếu ở hoàn cảnh ấy, bạn sẽ tham gia.

Bởi vì, ý thức cá nhân và lòng nhân bản cá nhân của bạn đâu có vai trò gì trong những điều về thế giới mà bạn được dạy. Thế giới là nơi vì quyền lợi mà các giai cấp xâu xé nhau.

Bạn không phải là kẻ giết người. Nhưng ý thức đó đã nằm trong bạn. Bạn được nuôi dưỡng với một con quái vật nằm trong bạn.

Hãy cho con quái vật ấy một cơ hội, nó sẽ cho bạn thấy.




CNCS II
Sunday, May 3, 2009 Author: Trường An
    3. Trật tự thế giới mới

"The classes and the races too weak to master the new conditions of life must give way… They must perish in the revolutionary holocaust".
- Karl Marx (Marx People’s Paper, April 16, 1856, Journal of the History of Idea, 1981)

"Những giai cấp và chủng tộc qúa yếu đuối để có thể làm chủ hoàn cảnh sống mới phải nhường đường... Chúng phải diệt vong trong cuộc tàn sát cách mạng."

“Until its complete extermination or loss of national status, this racial trash always becomes the most fanatical bearer there is of counter-revolution, and it remains that. That is because its entire existence is nothing more than a protest against a great historical revolution. … The next world war will cause not only reactionary classes and dynasties, but also entire reactionary peoples, to disappear from the earth. And that too is progress”.

- Karl Marx (Neue Rheinische Zeitung, 1849)

"Cho đến khi bị tận diệt hoặc hoàn toàn mất đi địa vị xã hội, thứ rác rưởi của chủng tộc này luôn luôn trở thành kẻ cuồng tín phản kháng cách mạng, và sẽ vẫn như thế. Bởi vì toàn bộ sự tồn tại của chúng không là gì khác ngoài chống đối lại cuộc cách mạng lịch sử vĩ đại... Cuộc chiến tranh thế giới tiếp theo sẽ không chỉ khiến các giai cấp và triều đại phản động, mà tất cả những kẻ phản động, phải biến mất trên mặt đất. Và đó cũng là sự tiến bộ".


---------------

And now...

Đó là những gì Karl Marx (và Engels) đã xác định để thành lập một "thế giới mới". Đó là điều tiên quyết nằm trong nhân tố tạo thành CNCS. Và Lenin đã phát triển nó lên một bậc cao hơn: Phân chia cả thế giới dựa trên giai cấp, tiến hành cuộc chiến tranh "giải phóng giai cấp" để tạo thành một thế giới mới.

Nhưng không thể không để tâm rằng: Yếu tố phân biệt chủng tộc đã nằm ngay trong những trang đầu của CNCS.

Tất nhiên, không thể đổ lỗi cho Darwin về việc kẻ khác sử dụng giả thuyết khoa học của ông. Ngược lại, Darwin - danh nhân được người Anh in hình vào tờ tiền của họ - là một nhà khoa học có đóng góp rất lớn vào qúa trình tiến bộ của nhân loại. Vô thần hay hữu thần, giả thuyết khoa học của ông đã đánh dấu bước đầu tiên cho y học hiện đại. Trên bình diện triết học, thuyết của ông là vũ khí quyết định cho triết học vô thần thắng thế triết học kinh viện nhà thờ, chuyển biến thế giới vào một thời kỳ mới. Và trên hết, không phải thứ triết học nào sử dụng lý thuyết của Darwin đều trở thành vũ khí giết người.

Ngay cả với tư tưởng về Xã hội chủ nghĩa, ta cũng không nên lầm lẫn giữa Chủ nghĩa xã hội dân chủ và CNCS.

Cuối thế kỷ 19, những người theo đường lối Xã hội chủ nghĩa đã phân chia thành 2 nhánh rõ ràng: 1 bên không ủng hộ đường lối "bạo lực cách mạng" mà cho rằng có thể chuyển biến CNTB dựa trên những đấu tranh dân chủ. Bên kia, ngược lại, cho rằng đó là "phản bội giai cấp" và nhất quyết đi theo đường lối cách mạng bằng bạo động. Cho đến cuộc Cách mạng tháng 10 tại Nga, phe "bạo lực" dường như đã thắng thế. Và trong một châu Âu ngập sâu trong khủng hoảng sau chiến tranh, CNCS cùng CNPX đều là "thành qủa" của phe "Chủ nghĩa xã hội theo đường lối bạo lực". Và trước năm 1941, Liên Xô và Đức là những kẻ bước chung một chiến tuyến. Bởi vì, tuy có vài điểm khác biệt, nhưng điều cả 2 tư tưởng này nhắm đến đều là: "Thành lập một thế giới mới".

Thật ra, đây là một điểm phổ biến trong triết học cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, khi châu Âu say sưa với những phát minh khoa học, nhất là những phát kiến về nhân chủng học, y sinh học. Friedrich Nietzsche với lý thuyết về "super man" đã và vẫn đang làm khuynh đảo châu Âu khi những kẻ cuồng tín học theo để gây đủ loại tội ác. Đả phá các giáo điều cũ kỹ, khám phá khả năng của con người, vượt qua các rào cản... châu Âu trong cuộc chuyển mình của khoa học kỹ thuật đã ra sức tìm kiếm một "con người mới", và với những kiến thức (còn đầy hạn chế) đã mơ ước đến một chủng tộc vượt trội hơn bao giờ. Xã hội cơ khí máy móc đó đã sản sinh ra những ước mơ cũng cơ khí máy móc không kém, và khi người ta đem những lý thuyết còn sặc mùi dầu mỡ ấy vào triết học, vô hình chung, đã tự tạo ra một bản thể con-người-máy-móc lẫn thế-giới-máy-móc.

Ta đã thấy CNCS và CNPX áp dụng máy móc thuyết tiến hóa tự nhiên của Darwin trong giải quyết những vấn đề xã hội. Khi được Lenin "cải tiến", thứ khoa học cứng nhắc làm bản thể cho CNCS không hề mất đi, ngược lại, chỉ được áp dụng rộng rãi hơn đến phạm vi toàn cầu. Thế giới được phân chia dựa vào giai cấp. Giai cấp được xác định bằng của cải, địa vị xã hội, xuất thân và cả chủng tộc. Chủng tộc luôn luôn hiện diện trong các hành động của người Cộng sản. Từ khi Marx xác định chỉ có giống người Đức, Poles và Magyars là "xứng đáng để tiếp tục nòi giống", đã có Lenin với cuộc hủy diệt hàng loạt người Serb, người Hồi giáo và các quốc gia nhỏ phụ thuộc - đã được Stalin tiếp tục với loạt mồ chôn tập thể hàng chục triệu người rải rác khắp Liên bang Xô viết, Pol Pot với cuộc "thanh lọc nòi giống xấu". Và không thể nói rằng thứ "chủ nghĩa lý lịch" phổ biến tại bất cứ quốc gia CSCN nào là không có liên quan đến lý thuyết về chủng tộc.

Cũng như Darwin đã nói: Môi trường sống xác định nên những hình thái sinh vật thích ứng với nó. Thêm vào lý thuyết cơ bản của triết học duy vật: Vật chất quyết định ý thức. CNCS và những lý thuyết triết học gần giống liền xác định: Để cải tạo ý thức, cần phải tác động lên môi trường.

Và như Darwin chọn lọc những hạt giống từ cây khỏe đẹp, lãnh đạo của Đức quốc xã và Nga Xô viết chọn lựa những con người xuất thân từ "tầng lớp lao động". "Con người có thể cải tạo. Con người có thể được tạo thành." thứ lý thuyết mà Lenin đã chỉ định trong phòng thí nghiệm đã tạo nên hệ thống giáo dục độc tôn CNCS, nơi mà chỉ được phép tin theo, không được phép nghi ngờ.

Những kẻ "yếu đuối"? Chúng sẽ bị tận diệt.

Khi vươn ra tầm quốc tế, mọi việc càng trở nên đơn giản theo lý thuyết của Marx-Le: Chia tất cả con người thành giai cấp, và ngoài "thành phần lao động", hãy hủy hoại tất cả số còn lại. Cho chúng "biến mất khỏi mặt đất". Bởi vì "sự tồn tại của chúng là ngáng trở CNCS".

Năm 1944-1945, phát xít Nhật đã khiến 5 triệu người Đông Nam Á chết đói vì tập trung lương thực cho chiến tranh.

Mùa đông năm 1932-1933, 7 triệu người Ukraine chết đói do lệnh tập trung lương thực của chính quyền Stalin. Những người lẻn đến gần cánh đồng lúa chín vàng sẽ bị bắn hạ ngay tại chỗ.

Năm 1939-1945, phát xít Đức giết 2 triệu người Do Thái. 94 triệu người chết trong CTTG II.

Năm 1946-1989, 20 triệu người bị giết dưới mồ chôn tập thể ở Đông Âu. Hơn 100 triệu người chết trong các quốc gia CSCN.

Ở Nga, có phong trào "giết bọn Bạch vệ". Ở Trung Quốc, có Cách mạng văn hóa. Ở Việt Nam, có "Cải cách ruộng đất", "Cải tạo tư sản". Ở Cambot, có phong trào "Cải tạo công nông"...

Điều này chỉ là kết qủa của chính thứ tư tưởng mà Marx là kẻ khởi đầu cho một "Thế giới mới":

"Những giai cấp và giống loài không có khả năng làm chủ hoàn cảnh mới - Hãy tận diệt chúng bằng cuộc thảm sát cách mạng!"

Karl Marx - Ngày 16-4-1856.




CNCS-PX
Saturday, May 2, 2009 Author: Trường An
    2. Luân lý của cái ác

Nói khách quan, CNCS và CNPX đã ra đời để đáp ứng nhu cầu của thế giới thế kỷ 20, là sản phẩm của thế kỷ 20 - Là thành phẩm của CNTB. CNTB đã hình thành và phát triển trong suốt 2 thế kỷ 18-19 để đạt được thành qủa bước đầu vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Các quốc gia TBCN hoặc bán TBCN (Quân chủ lập hiến) được thành lập ở những đất nước có nền kinh tế phát triển lâu đời. Việc phát triển cực thịnh của nền sản xuất công nghiệp kéo theo nhu cầu tìm kiếm thị trường và nguồn nhân công, nguyên liệu. Công cuộc tìm kiếm vùng đất mới và chinh phục thuộc địa đã chuyển biến từ hình thức khẳng định quyền lực của chế độ Phong kiến sang nhu cầu bức thiết để phát triển CNTB. Hàng loạt các quốc gia ngoài châu Âu đã bị xâm lược là kết qủa của sự phát triển trong lòng châu Âu.

Trong khi đó, xung đột giữa tôn giáo và các lực lượng vô thần vẫn diễn ra gay gắt. Năm 1871, những người vô sản Pháp đã làm một cuộc lật đổ ngoạn mục chính phủ Napoleon, trong lần ấy, vô số giáo sĩ và người tu hành bị giết. Tiền đề của nước Anh đã đặt ra cho châu Âu: Giải phóng con người phải đi đôi với hạ bệ sự thống trị của Thiên Chúa giáo.

Nhưng CNTB phát triển không đồng nghĩa với quan hệ sản xuất và đạo đức xã hội phát triển, thay đổi theo. CNTB đã phát triển với hàng loạt các cuộc đình công, cướp phá, lật đổ của công nhân tại các nhà máy phản đối chế độ bóc lột nô lệ nguyên thủy. CNTB - Thực dân đã phát triển với hàng loạt các cuộc nổi dậy của dân chúng các vùng thuộc địa phản đối chế độ chiếm hữu, thống trị và cai quản kiểu phong kiến. Thời gian đầu của chế độ TB đã mang trong mình nó tất cả sự trì trệ của các chế độ trước nó, các quan hệ sản xuất không theo kịp với sự phát triển của ý thức xã hội mà chính nền triết học tạo ra nó đem đến, do chính nó đào tạo nên. Và nó cũng không kiềm chế được ngay cả những mâu thuẫn phát triển. Cuộc CTTG I bùng nổ là kết qủa của xung đột giữa các giai tầng thống trị, và trở thành nguyên nhân cho sự phát triển của cả CNCS và CNPX.

Xung đột của công nhân và chủ TB, của thuộc địa và mẫu quốc, của chính các quốc gia TB, của TB-PK, của duy vật-duy tâm, của nghèo đói - phát triển, trong môi trường mà CNTB đã mọc lên trên tàn tích của chế độ phong kiến, quyền con người được truyền dạy khi văn hóa chiếm hữu nô lệ vẫn còn in đậm, đó là mảnh đất màu mỡ cho CNCS và CNPX. Công bằng xã hội và xóa bỏ chế độ người bóc lột người, chống CNTB, chống phong kiến, chống tôn giáo, quyền lợi cho công nhân, ngợi ca lao động và đề cao quyền lợi số đông - Điều mà cả hai tư tưởng này nhắm đến là ước mơ của mọi người mọi kẻ trong thế giới nhiễu nhương đầu thế kỷ 20. Do đó, sự phát triển nhanh chóng của cả hai học thuyết này là kết qủa của chính CNTB, nhằm giải quyết mặt trái của CNTB thời kỳ đầu và những hệ lụy của môi trường sản sinh ra nó.

Tuy khác nhau về nhiều mặt, thậm chí đối nghịch nhau trên trường chính trị, CNCS và CNPX có những điểm chung không thể chối cãi. Là 2 học thuyết đặt cơ sở trên những luận lý của Darwin về sự chọn lọc tự nhiên hình thành nên thế giới và mâu thuẫn quyền lợi là nguyên nhân của các xung đột trong xã hội loài người, cùng chọn cách giải quyết bằng thanh trừng và bạo lực - CNCS và CNPX chỉ hướng đến 2 thành phần khác nhau: CNPX là tinh thần dân tộc cực đoan, hình thành trong một (hay nhiều quốc gia) mà xã hội có nhiều mâu thuẫn của thành phần dân tộc đa số với thiểu số, trong hoàn cảnh châu Âu đang tiếp nhận rất nhiều sắc dân đổ về; còn CNCS là tinh thần giai cấp cực đoan.

Nói một cách ngắn gọn, cả 2 học thuyết này đều có điểm chung: Sự thượng đẳng và nhu cầu tiêu diệt.

- Sự thượng đẳng: Với CNPX, đây là một điểm có thể nhìn thấy rõ ràng. Dù là Đức hay Nhật, hay Ý, thậm chí các thành phần đầu trọc hiện tại, "tinh thần thượng đẳng" được xác định dựa vào nguồn gốc chủng tộc, vào lịch sử phát triển và nền văn minh sẵn có là điều kiện đầu tiên nhận diện CNPX. Tự coi dân tộc mình là "thượng đẳng", các quốc gia phát xít coi sự chiếm giữ và thống trị của mình là đương nhiên với mọi quốc gia, dân tộc khác, cũng như quyền tiêu diệt những kẻ thấp kém hơn. Một lần nữa, khách quan nhìn nhận, đây là kết qủa của chính thứ lý luận được CNTB-Thực dân sử dụng để thống trị và chiếm giữ các quốc gia khác. Xa hơn nữa, đây cũng là thứ được truyền dạy trong những năm tháng của Thiên Chúa giáo, khi người da trắng xem tất cả giống người khác là man di và nhấn mạnh sự độc tôn của đạo. CNPX ở nước Đức đã thể hiện tất cả những điều này: Coi sự thượng đẳng của mình là kết qủa của Thiên Chúa, xem sự tiêu diệt, "thanh lọc thế giới" khỏi những phần tử khác là đương nhiên, là một nhiệm vụ thiêng liêng. Đồng thời sử dụng những kiến thức về gien, về khoa học để loại bỏ "thành phần xấu", chế tạo một giống người hoàn hảo. Sử dụng cả luận lý của Marx "Vật chất quyết định ý thức" để "cải tạo thê giới, cải tạo con người" bằng hệ thống tuyên truyền, giáo dục đã kích động cả một dân tộc vào guồng quay của nó.

Trong khi đó, "sự thượng đẳng" ở CNCS, một lần nữa, lại dưới danh nghĩa giai cấp. Không trực tiếp tuyên truyền về "sự thượng đẳng", nhưng những lý luận đả kích, bôi nhọ các thành phần giai cấp khác, coi họ nếu không phải là "kẻ bóc lột", "kẻ có tội với nhân dân", "kìm hãm sự phát triển xã hội", thì cũng "yếu đuối", "độc ác", "hèn hạ", "tồi tệ"... những chế độ cai trị khác đều là bóc lột, xấu xa, tàn ác, vô nhân tính đã đặt một phần con người khỏi "xã hội mới". Và những công nhân, nông dân, thành phần nghèo khổ khác chiếm số đông được vuốt ve bằng những mỹ từ "giai cấp cần lao", "người lao động chân chính", "kẻ bị áp bức", "người tạo ra của cải cho xã hội", "nguồn sống chính của thế giới", "kẻ thúc đẩy tiến bộ xã hội"...

Không cần phải nói thêm, "sự thượng đẳng" được gán cho giai cấp công nhân, nông dân, lao động nghèo này đã tạo nên tâm lý nào cho họ.

Nhưng đặc biệt nguy hiểm, một khi đã dùng đến vũ khí "sự thượng đẳng", như CNPX, CNCS cũng trao vào tay "kẻ thượng đẳng" quyền tiêu diệt "kẻ thấp kém" nhân danh công bằng và tiến bộ xã hội. Hơn cả CNPX, nơi mà cái ác được dạy như một điều kiện tất nhiên của chọn lọc tự nhiên do tự nhiên ban tặng, CNCS kích động sự hận thù giữa các giai cấp, các thành phần trong xã hội - Khi ấy, cái ác mang tên "Bạo lực cách mạng" là giải pháp mang đến hạnh phúc, công bằng, nơi mà tất cả sự tàn nhẫn được bao biện bằng mục đích và sự hủy hoại con người chỉ dựa vào duy nhất một điều kiện: Sự tồn tại của họ là vật cản của CNCS.

Những đứa trẻ, mọi công dân của đất nước CSCN được dạy dỗ lòng căm thù giai cấp và ý thức tiêu diệt, hủy hoại các giai tầng "bóc lột" từ những bài học đầu tiên. Nơi đó, mọi việc làm của "giai cấp công nông" đều đúng, các cuộc "khởi nghĩa công nông" đều là động lực tiến bộ xã hội, đều đáng ngợi ca. Mọi sự hủy hoại gây ra được với "kẻ bóc lột" đều đáng tự hào. "Người lao động" là ông chủ đáng phải có của xã hội, của thế giới, là thành phần tốt đẹp nhất, ưu tú nhất, tiên tiến nhất. Những kẻ chống lại họ đều xấu xa, tồi tệ. Lịch sử phát triển của cả thế giới là một qúa trình tối tăm.

Và cách hành động duy nhất với mọi trường hợp: "Kẻ thượng đẳng" tiêu diệt "kẻ xấu".

Nếu như muốn nói, "lý thuyết về sự thượng đẳng" và cả giải pháp của nó đều chỉ là kết qủa của những lý luận mà tôn giáo và chế độ phong kiến, CNTB-Thực dân để lại. Do nhu cầu thống trị, mọi thành phần cai trị đều phải tìm cho mình một lý do để cho mình thành "kẻ thượng đẳng". Mọi chế độ cai trị đều cho bản thân giai cấp mình quyền lực cao hơn, dựa vào tôn giáo, dựa vào thần thánh, dựa vào của cải, vào sức mạnh... Các giai cấp, nếu muốn đoạt được quyền thống trị, đều phải tìm cho mình lý do của sự thống trị ấy.

Tuy nhiên, sự nguy hiểm đặc biệt của CNCS nằm trong chính bản thân lý thuyết của nó - Sự hận thù được coi như là đương nhiên và tất nhiên. Sự hủy hoại, tiêu diệt cũng được coi là đương nhiên và tất nhiên, thậm chí, được đề cao và ca ngợi, là con đường duy nhất giải quyết tất cả.

Cái ác của CNPX là kết qủa của lý thuyết thượng đẳng của nó.

Cái ác của CNCS là nguyên nhân cho tất cả tội lỗi mà nó đã gây ra.

Lý thuyết của Darwin về chọn lọc và đấu tranh tự nhiên đã được mang vào cả hai học thuyết này với đầy đủ dã tính của loài vật trong tự nhiên: Để giải quyết mâu thuẫn xã hội, hãy tiêu diệt tất cả các đối thủ.

Nguyên nhân? Cũng như Darwin nói: Là loài sinh vật thượng đẳng được lựa chọn qua qúa trình lao động cải tạo tự nhiên.

Loài sinh vật thượng đẳng tiêu diệt tất cả những loài thấp hơn nó để tồn tại.

Đó là luận lý của cái ác.




Lật thuyết
Friday, May 1, 2009 Author: Trường An

(Nếu có hứng thú thì mỗi ngày viết 1 chút, còn không thì thôi.) '_'

Tương đồng giữa CNCS và Phát xít:

    1.Thuyết tiến hóa của Darwin.

Nhắc đến CNCS, không thể quên hoàn cảnh ra đời của nó: Châu Âu cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Sau Kỷ nguyên ánh sáng và những thành tựu khoa học rực rỡ đã thúc đẩy sản xuất phát triển, kéo theo sự phát triển của tầng lớp tư bản công nghiệp - Là những kẻ nắm trong tay các tư liệu sản xuất nhưng lại không có thực quyền chính trị. Trong hoàn cảnh này, mâu thuẫn giữa nhà thờ, ở đây là một lực lượng thống trị bằng đức tin và tôn giáo, với các lực lượng đòi quyền tự do bùng nổ. Nói cách khác, trong lãnh vực triết học, đây là cuộc đấu tranh của triết học duy tâm và triết học duy vật. Thuyết tiến hóa của Darwin - thời kỳ này - trở thành vũ khí cho Triết học duy vật. Kẻ đã phát triển, đã sử dụng thuyết này đến độ cực đại - chính là Chủ nghĩa Tư bản.

Thuyết tiến hóa của Darwin tin rằng tự nhiên có sự chọn lọc và mọi thứ được hình thành trong tự nhiên thông qua một qúa trình phát triển. Từ những đơn bào ở biển cả trở thành đa bào, tiếp tục phân chia và tùy theo sự thích ứng với môi trường sống mà thay đổi, hình thành nên nhiều chủng loại khác nhau. Trong qúa trình ấy, những thành phần thích ứng được với môi trường sẽ tiếp tục phát triển và ngày càng hoàn thiện, ngược lại sẽ bị đào thải.

Ông cũng được xem là người đưa ra thuyết "đấu tranh để sinh tồn": Trong môi trường tự nhiên ngày càng thu hẹp, các sinh vật tồn tại với nhau dựa trên "vòng lương thực" - Loài này là thức ăn cho loài khác. Các sinh vật nhỏ yếu hơn, không chống chọi được với sự phát triển của loài sinh vật mạnh hơn cũng bị tuyệt diệt.

Sự quan hệ của sinh vật với môi trường, với các sinh vật khác này được gọi là "Sự chọn lọc tự nhiên".

Ta có thể nghe thấy những chữ này được lặp lại vào trăm năm sau đó, từ những kẻ mang hình chữ thập ngoặc: Đảng Quốc xã của Quốc trưởng Hitler, hay đầy đủ hơn, đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Quốc gia Đức. "Sự chọn lọc tự nhiên" là cơ sở để những kẻ Phát xít khẳng định sự ưu việt về nòi giống bản thân, sự "bại hoại", "thấp hèn" của những giống người khác và yêu cầu phải "thanh lọc thế giới" khỏi những gien mềm yếu, những tính cách nhu nhược và những gì mà quốc gia không cần đến. Đó là sự ra đời của lò thiêu và nguyên nhân thảm sát nhắm vào những tộc người nhất định.

Như cái tên của mình, đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Quốc gia chống lại Chủ nghĩa Tư bản và cho rằng mọi sự băng hoại về đạo đức, nhân cách, xã hội do sự đặt nặng quyền lợi vật chất lên trên hết của CNTB gây ra. Ra đời trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 1929-1936, đảng Quốc xã kêu gọi sự ủng hộ trong giới công nhân và đã thành công trong việc lật đổ chính phủ TB cầm quyền. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất với cuộc bại trận nhục nhã khiến quốc gia rộng lớn hùng mạnh Đức-Phổ phải chia đôi, nước Đức có nhu cầu khẳng định lại vị thế của mình ở châu Âu hơn lúc nào. Chống lại CNTB, chống lại kinh tế tư nhân, công hữu hóa tất cả tư liệu sản xuất, từ bỏ các định đề đánh giá con người qua của cải, địa vị mà chỉ xem xét chính bản thân tài năng của họ, thành lập các cơ sở huấn luyện, đào tạo, các sở phúc lợi không thu phí, đảng Quốc xã đã đáp ứng đầy đủ nguyện vọng của người dân Đức lúc bấy giờ.

Và không thể nói Hitler đã không thành công. Từ một đất nước ngập sâu trong khủng hoảng, tiền tệ mất giá, tuột dốc thảm hại, chỉ trong vòng vài năm, Đức đã trở thành một thế lực đáng gườm ở Âu châu.

Nhưng tất cả điều này đã gợi nhắc cho ta đến một hoàn cảnh khác, trước nước Đức chừng vài thập kỷ. Nga, khủng hoảng trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, trong xung đột giữa nền sản xuất công nghiệp và quan hệ sản xuất phong kiến, đã đoạt được chính phủ từ triều đình rệu rã, cũng bằng những lý luận nghiêng về giai cấp công nhân. Lenin, sau cuộc chiến với Bạch vệ, đã quốc hữu tất cả tài sản và đưa mọi người vào những công trường lớn. Khác với nước Đức, Nga là một quốc gia đa chủng tộc, đa tôn giáo và thậm chí hoàn toàn khác biệt về hình thái sản xuất giữa các vùng. Điều này đã được Lenin, sau đó là Stalin "hóa giải" bằng khẩu hiệu "Vô sản toàn thế giới đoàn kết lại!".

Thuyết Darwin, đóng vai trò rõ ràng trong sự phân biệt chủng tộc của Đức quốc xã (nói cách khác, là một nhân tố kêu gọi tinh thần dân tộc của phát xít), thì ở nước Nga, đã thể hiện mặt khác của nó: Thuyết đấu tranh để sinh tồn.

Có thể tìm thấy dấu vết này trong tư tưởng của Marx, người khởi đầu cho CNCS: Trong xã hội, kẻ nắm trong tay tư liệu sản xuất là kẻ mạnh hơn, có toàn quyền chi phối các thành phần khác. Trong môi trường mà nguồn sống có giới hạn, kẻ mạnh hơn sẽ có được nhiều hơn. Và cách giải quyết của Marx chính là sự hành động của sinh vật trong dã tính: Bạo lực cách mạng - chiến tranh, lật đổ, giải phóng - Để lấy tư liệu sản xuất cho giai cấp của mình.

Như Darwin, Marx và sau này là Lenin tin rằng, xã hội chỉ có thể phát triển, cách thức quản lý xã hội chỉ có thể thay đổi bằng cách giai cấp này lật đổ giai cấp khác, thành phần này tiêu diệt thành phần khác để thay thế vị trí lãnh đạo. Bạo lực cách mạng là phương tiện đấu tranh duy nhất để giải phóng con người, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.

Lenin đã phát triển thêm tư tưởng ấy bằng quan điểm "Vô sản toàn thế giới đoàn kết lại", cho rằng sự phát triển của thế giới gắn liền với chống lại "bất công" tư bản, "áp bức phong kiến". Phát triển rộng rãi các phong trào công nhân, thành lập các nhà nước Cộng sản là giải pháp để ổn định thế giới - Một lần nữa, điều này đánh đúng vào yêu cầu quốc tế giữa những biến loạn tranh chấp thuộc địa, các cuộc phân rã diễn ra khắp nơi sau các cuộc chiến dài, xung đột của các quốc gia thực dân mới và cũ, cả các cuộc đấu tranh giải phóng thuộc địa ở Á, Phi, Mỹ latinh.

Loại bỏ nguồn gốc xung đột - theo thuyết của Darwin - là Quyền lợi - Đó là nhân tố chính của CNCS, được nêu ngay từ các bài học đầu tiên. Các cuộc chiến tranh, từ khởi thủy vượn người cho đến cuộc chiến Tư bản đều do một nguyên nhân duy nhất: Tranh giành quyền lợi - Tư liệu sản xuất, vốn, của cải, đất đai... Chế độ nô lệ tranh giành vùng nhiều nhân công. Chế độ phong kiến tranh giành đất. Chế độ tư bản tranh giành thị trường. Chế độ thực dân tranh giành thuộc địa. Quyền lợi được phát triền từ thứ lương thực nuôi sống bản thân đến thứ nuôi sống 1 giai cấp, 1 hình thức của cải trìu tượng như vốn Tư bản. CNCS cho rằng, loại bỏ nguồn gốc này, và những kẻ liên quan, là thực hiện được công bằng xã hội.

Nhưng, trong qúa trình thực hiện CNCS tại nhiều quốc gia, ta một lần nữa lại thấy lý thuyết chủng tộc học nguyên thủy Darwin ảnh hưởng một cách tồi tệ: Dưới danh nghĩa giai cấp. Trong mắt những người Cộng sản, giai cấp là những kẻ có cùng một cách làm việc, có nhiều tài sản, có nhiều ảnh hưởng, thậm chí, xuất thân từ một nguồn gốc nhất định. Chính là đây, thuyết của Darwin: Môi trường ảnh hưởng quyết định đến con người. Do đó, những kẻ sinh trưởng trong môi trường nhất định là sản phẩm của môi trường đó.

Những người Do Thái thì nhất định là bọn đầu cơ tích trữ cơ hội thủ đoạn. Những người sinh trưởng nơi giàu sang nhất định là bọn bóc lột tàn ác. Những người xuất thân bần hàn nhất định là kẻ nghĩa khí hào hiệp... Tất cả đều được giải thích bằng di truyền!

Ta không quên những "trại huấn luyện" của Đức Quốc xã cho trẻ em vừa đủ tuổi đến trường với những bài học về "chủ nghĩa quốc gia" phát không ngơi nghỉ, nơi những đứa trẻ được học yêu kính lãnh tụ và xả thân cho sự phát triển của nước Đức hùng cường.

Thì ta sẽ không thể không biết những đợt "Cải cách văn hóa" của Mao Trạch Đông đem hàng triệu trí thức về làm ruộng.

Ta không quên những lò thiêu của Đức quốc xã nhân danh thanh lọc chủng tộc, loại bỏ khỏi thế giới những "mầm sống xấu". Kể cả những người Đức tàn tật, thiểu năng, bại liệt, đồng tính... cũng bị loại bỏ.

Thì ta sẽ không thể không nghĩ đến chủ trương của Pol Pot "Chỉ để lại giai cấp lao động trong sạch". Những thành phần khỏe mạnh, là nông dân thì được giữ lại. Người già yếu, tàn tật, bệnh hoạn, trí thức, tư sản... đều phải bị giết.

Ta không quên cuộc chiến tranh mà Đức và Nhật cùng phát động trên toàn thế giới nhân danh "nòi giống thượng đẳng", "Đại Đông Á", "Châu Âu thống nhất".

Thì ta không thể không nhớ đến ách thống trị của Nga áp đặt lên Đông Âu, bắt họ phải sáp nhập vào một "Liên bang Xô viết vĩ đại của giai cấp công nông". Cuộc tàn sát của Lenin, của Stalin, Mao Trạch Đông... với những kẻ chống đối nhân danh giai cấp.

Và thuyết Darwin, từ một giả thuyết khoa học để giải thích cho sự sống, đã trở thành nguồn cung cấp cho các tư tưởng này điều mà chính Darwin cũng không ngờ tới: Cuộc đấu tranh sinh tồn chỉ được giải quyết bằng cách một bên phải bị tuyệt diệt.

Và nguyên nhân của tất cả sự hủy hoại ấy: Do chính sự tồn tại của họ - xuất thân, chủng tộc, gia đình... Không gì khác!




Từ ca
Sunday, October 15, 2006 Author: Trường An

Năm mười tuổi, em nói, mắt trong veo “Em muốn bay.”

Năm mười lăm, mắt em buồn như màu trời “Em muốn bay.”

Năm hai mươi, em cười ngạo nghễ “Em muốn bay.”

Năm mười tuổi, em mơ về tình yêu với hình ảnh chàng hoàng tử trên lưng ngựa trắng.

Năm mười lăm, em mơ về cậu bạn lớp bên với nụ cười răng khểnh và đóa hồng màu đỏ.

Năm hai mươi, em vẫn mơ về đóa hồng đỏ, thật nhiều hồng đỏ.

Em khóc.

Em muốn bay. Màu trời bao giờ cũng xanh như thế.

Em muốn bay. Năm mười tuổi em muốn trở thành một con chim nhỏ. Năm mười lăm em nhắc đến tự do. Năm hai mươi em nhận ra mình đầy ràng buộc.

Em muốn bay. Cất cánh lên cao. Để gió nâng lên, nâng lên cao mãi. Mây trắng như bông và lạnh dịu như kem. Mặt đất xanh ngắt màu cỏ và nhấp nhô những cánh đồng. Cất cánh  lên cao. Cho em vượt lên bầu trời, xa rời thế gian. Nước mắt em sẽ là mưa trong suốt ngọt ngào.

Em chông chênh giữa những lằn ranh. Gió rơi. Nắng rơi. Mây tan hoa nát. Em khóc một mình.

Nước mắt không trong.

Em mơ về tình yêu với chàng hoàng tử và những đóa hoa hồng. Một người xa lạ đến bên em một sáng mai tinh khiết ngọt lành. Nơi đó, gió và nắng đều không bao giờ chuyển sắc. Nơi đó, hoa hồng sẽ không bao giờ tàn. Nơi đó, tình yêu là vĩnh viễn.

Em mơ về tình yêu đau đớn ngọt ngào vô tận, em mơ về tình yêu như chiếc kẹo gừng ngọt cay nơi đầu lưỡi. Nơi em qua, hoa hồng và gai nhọn giăng đường. Em cười với bàn chân trần đầy máu.

Em nhắm mắt, tìm tình yêu trong chăn mỏng. Góc nhà lạnh. Một mình. Em khóc.

Em không khóc vì tình yêu.

Nước mắt không còn vị mặn. Mưa không còn buồn vui.

“Em muốn bay.”

Cho em bay đi tìm tình yêu nơi chân trời lạ. Em bay lên đuổi theo mặt trời. Tắm mình  trong nắng và tan cháy trong đau đớn vĩnh hằng. Để bụi tro em bay khắp không gian nơi nào gió có thể chạm tới.

Cho em bay đi tìm vô tư nơi bầu trời rộng. Nơi những muộn phiền không thể đuổi theo. Cho em cực cùng bơ vơ chơi vơi chao đảo. Một ngày cánh gãy mắt nhòa em lăn mình trong những đám mây để rơi vào vô tận.

Cho em bay đi  tìm nơi để trở về. Khóc cười buồn vui hờn giận ngây thơ, mắt vẫn trong dù lá đến mùa đã úa. Hoa tan lá rụng nước chảy ngày tàn, tiếng hát trong mưa  lạc nhịp.

Em muốn bay.

Cánh trắng mỏng manh gió quất tan rách mướp. Mắt trong mưa bụi ướt nhòa.

Em muốn bay.

Cho em tự do. Vô tận vô biên vô hình vô ảnh. Nắng trắng phủ trùm. Tuyệt đối cực cùng.

Chao cánh vào bầu trời. Kiếm tìm hư vô. Tim vẫn còn trong ngực.

Muốn là chú chim trong bụi gai hát lên tiếng hót mãn nguyện đớn đau.

Muốn là chiếc bong bóng nổ tan trong bầu trời, cười lớn như là khóc.

Muốn làm chiếc lông vũ. Rơi. Mãn nguyện chơi vơi. Vô tư vô hạn vô cùng. Nhận ra dòng sông một chiều hoàng hôn chan đầy ánh nắng đùng đục như nước mắt.

Cho em bay.

Vòng tay ôm một ngày không chặt. Cửa cài một ngày không đóng.

Bay đi trong lãng quên.

Để nước mắt bay ngược trong gió sẽ không còn trong khóe mắt. Để gió mưa đắp lên cái lạnh trong tim. Để những lời nói dối sẽ ở lại sau lưng không còn nghe được.

Ngu ngơ ngốc nghếch ngờ nghệch an nhiên.

Bay đi trong lãng quên.

Bay đi trong lãng quên.

Bay đi trong lãng quên.

Em không tìm tình yêu. Em không tìm tự do. Em không cần giấc mơ và hoa hồng.

Cho em một chiếc lồng.

Nghe mưa rơi ngoài cửa. Nghe gió giật trên mái nhà.

Ngủ trong bình yên và lãng quên.

Ngủ yên trong lãng quên.

Ngủ quên trong bình yên.




Copyright © Trường An. All rights reserved.